Tư vấn sức khỏe

Nhịp tim bình thường là như thế nào?

Nhịp tim của người bình thường sẽ rơi vào khoảng 60-100 nhịp/phút. Các chuyên gia cho rằng một trái tim khỏe mạnh sẽ có nhịp đập từ 60- 80 nhịp/phút. Nhưng cũng có những trường hợp một số người có nhịp chậm hơn hoặc nhanh hơn một cách tự nhiên.

1. Nhịp tim của người bình thường là bao nhiêu?

Nhịp tim là một trong những chỉ số quan trọng của sức khỏe con người. Nhịp tim bình thường là số lần tim đập trong 1 phút khi nghỉ ngơi. Nhịp tim trung bình của một người trưởng thành khỏe mạnh nằm trong khoảng từ 60 – 100 nhịp/phút.

Thông thường, nhịp tim trên 100 nhịp/phút được coi là nhịp tim nhanh và dưới 60 nhịp/phút được coi là nhịp tim chậm. Tuy nhiên, ở những người luyện tập thể dục thể thao đều đặn, nhịp tim có thể chỉ nằm trong khoảng từ 40 – 50 nhịp/phút, đó là do cơ tim của họ rất khỏe mạnh và làm việc hiệu quả.

Với những người lớn trên 60 tuổi, nhịp tim tốt nhất chỉ nên nằm trong khoảng từ 60 – 80 nhịp/phút. Khi nhịp tim trên 80 nhịp/phút, nhiều người người lớn tuổi đã xuất hiện triệu chứng mệt, hồi hộp, trống ngực… Trường hợp này có thể được coi là nhịp tim nhanh và cần điều trị.

Để có được giá trị nhịp tim chính xác, bạn nên đo nhịp tim ở trạng thái nghỉ ngơi hoàn toàn, với tư thế ngồi hoặc nằm. Nếu nhịp tim nằm ngoài khoảng giới hạn nhịp tim bình thường kèm theo các triệu chứng như trống ngực, đau ngực, mệt mỏi, thở dốc, chóng mặt, ngất xỉu hoặc đau đầu… thường xuyên thì bạn nên tới gặp bác sĩ chuyên khoa tim mạch để được thăm khám và điều trị sớm.

nhip-tim-binh-thuong

Nhịp tim bình thường của người trưởng thành giao động từ 60 – 100 nhịp/phút

Theo cơ quan y tế quốc gia vương quốc Anh, nhịp tim bình thường theo từng lứa tuổi như sau:

Trẻ sơ sinh: 120-160 nhịp/ phút.

Trẻ nhỏ từ 1 đến 12 tháng tuổi: 80-140 nhịp/ phút.

Trẻ nhỏ từ 1 đến 2 năm: 80-130 nhịp/ phút.

Trẻ nhỏ từ 2 đến 6 tuổi: 75-120 nhịp/ phút.

Trẻ nhỏ từ 7 đến 12 tuổi: 75-110 nhịp/ phút.

Người lớn trên 18 tuổi: 60-100 nhịp/ phút.

Vận động viên, người tập thể hình: 40-60 nhịp/ phút.

Trong trường hợp nhịp tim khi nghỉ ngơi ở mức độ dưới 40 nhịp/phút hoặc trên 100 nhịp/phút thì bạn nên đi gặp bác sĩ để kiểm tra đề phòng những dấu hiệu bất thường.

2. Cách đo nhịp tim

Đặt 2 ngón tay (ngón trỏ và ngón giữa) vào các vị trí mạch ở trên, và bấm nhẹ cho đến khi bạn cảm thấy mạch đập. Không sử dụng ngón cái vì ngón cái có mạch riêng. Lưu ý nếu đo ở động mạch cổ, bạn không được nhấn quá mạnh, bởi nó có thể kích thích cơ chế phản xạ làm chậm tim. Đồng thời, không nên ấn vào cả hai động mạch cảnh ở cổ cùng một lúc, vì có thể làm giảm lưu thông máu đến não.

Sử dụng đồng hồ bấm giờ, đếm nhịp đập trong vòng 15 giây và nhân kết quả lên với 4 để có được số nhịp đập trong mỗi phút.

do-nhip-tim

Đo nhịp tim kiểm soát sức khỏe là điều cần thiết

3. Lý do nhịp tim đập nhanh hoặc chậm

Lý do nhịp tim đập nhanh

Có nhiều lý do khiến nhịp tim của người bình thường đập nhanh như tập thể dục, uống nhiều đồ uống có caffein, hay khi cơ thể bị ốm sốt hoặc bị cường tuyến giáp. Những người sử dụng các chất kích thích như ma túy cũng khiến cho tim đập nhanh hơn bình thường. Đặc biệt trong trường hợp cảm thấy căng thẳng và lo lắng sẽ khiến nhịp tim của bạn nhanh hơn bình thường.

Lý do nhịp tim đập chậm

Trái tim như một khối cơ nên khi tập luyện thể dục nó sẽ càng khỏe. Chính vì vậy, khi bạn càng khỏe thì nhịp tim lúc nghỉ ngơi sẽ càng chậm. Ví dụ như một vận động viên điền kinh có nhịp tim khi nghỉ dưới 40 – 50 nhịp/ phút.

Cơ tim khỏe hơn nên nhịp tim chậm hơn và mỗi nhịp đập đều đặn như vậy vẫn đảm bảo đẩy máu đầy đủ đi nuôi khắp cơ thể.

Tham khảo các dòng xe đạp tập hỗ trợ nhịp tim : Xe đạp tập thể dục

4. Nhịp tim như thế nào là bất thường?

Rối loạn nhịp tim là căn bệnh tim phổ biến xảy ra do tần số hoặc nhịp tim bất thường như tim đập quá nhanh, quá chậm hoặc không đều. Bệnh thường xảy ra ở nam giới nhiều hơn so với nữ giới (nam chiếm 70%, nữ chiếm 30%).

Khi xung động điện ở tim hoạt động bất thường sẽ gây ra rối loạn nhịp tim và nó được chia ra thành các dạng:

Theo tần số: Nhịp tim quá nhanh hoặc quá chậm.

Hoạt động của tim không ổn định: Lúc nhanh lúc chậm, lúc đập quá sớm…

Rối loạn vị trí: Loạn nhịp bắt nguồn trong tâm thất hoặc tâm nhĩ.

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến rối loạn nhịp tim như: Rối loạn tâm lý, căng thẳng, stress, lao động gắng sức, sử dụng nhiều các chất kích thích như rượu chè, cà phê, thuốc lá…. Bên cạnh đó tác động từ các bệnh lý về tim mạch như: Thiếu máu cơ tim, các bệnh về van tim, viêm cơ tim, tim bẩm sinh…. cũng làm ảnh hưởng đến quá trình dẫn truyền xung động trong tim và gây ra rối loạn.

Ngoài ra, rối loạn nhịp tim còn có thể gặp từ các bệnh lý, nguyên nhân khác: Tăng huyết áp, rối loạn mỡ máu, đái tháo đường, béo phì, cường giáp, bệnh viêm phổi – phế quản cấp hay mạn tính, thiếu máu, rối loạn cân bằng kiềm – toan và điện giải, do thuốc (có nhiều thuốc gây nên rối loạn nhịp tim, đặc biệt các nhóm thuốc gây kéo dài khoảng QT trên điện tâm đồ, đồng thời chính các thuốc chống loạn nhịp tim đôi khi lại là thủ phạm gây nên rối loạn nhịp tim).

5. Chỉ số huyết áp có phải là nhịp tim?

Huyết áp và nhịp tim là là hai chỉ số khác nhau, không như sự lầm tưởng của một số người. Huyết áp là áp lực của máu lên thành động mạch, trong khi nhịp tim là số lần tim đập mỗi phút.

Khi mới nghe đến hệ tim mạch, chúng ta tưởng rằng huyết áp và nhịp tim có mối liên hệ với nhau, bởi mỗi khi tim tống máu đi, mạch máu giãn ra, huyết áp giảm để máu lưu thông dễ dàng hơn. Nhưng sự thật là nhịp tim có thể tăng, nhưng huyết áp có thể không thay đổi và ngược lại. Một ví dụ điển hình là khi vận động mạnh, nhịp tim có thể tăng gấp đôi để đưa máu tới cơ bắp kịp thời, trong khi huyết áp có thể tăng với một con số khiêm tốn.

Có thể lấy nhịp tim để đánh giá hoạt động của tim và mức tiêu thụ oxy nhưng nó không phải là phương pháp chẩn đoán thay cho việc đo huyết áp.

6. Cần làm gì khi bị rối loạn nhịp tim?

Tim hoạt động dựa trên cơ tim, van tim và hệ thần kinh tim. Chính vì vậy rối loạn nhịp tim là do sự bất thường trong chuỗi hoạt động của tim dẫn đến tình trạng tim bơm máu không hiệu quả. Ở mức độ nhẹ thì chúng ta gặp tình trạng hồi hộp, đánh trống ngực, khó thở, mệt mỏi. Còn khi nặng hơn có thể dẫn đến choáng ngất, có thể đe dọa tính mạng của người bệnh và khiến người bệnh phải nhập viện trong tình trạng cấp cứu.

Ngoài việc thay đổi chế độ dinh dưỡng và thói quen sinh hoạt, luyện tập thể thao để cân bằng nhịp tim thì chúng ta nên đi khám và kiểm tra định kỳ tại các cơ sở y tế uy tín. 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.